Văn mẫu lớp 11

Phân tích tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy

Phân tích tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy

1. Vị trí của đoạn trích trong vở kịch Vũ Như Tô

– Vũ Như Tô là vở kịch lịch sử gồm năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở kinh thành Thăng Long vào những năm 1516 – 1517.

Lê Tương Dực là một ông vua tàn bạo, hoang dâm, muốn xây dựng Cửu Trùng Đài làm nơi ăn chơi hưởng lạc với các cung nữ. Người có thể giúp y thực hiện ý định ngông cuồng ấy chỉ có Vũ Như Tô, một kiến trúc sư có tài. Nhưng Vũ Như Tô vốn là một nghệ sĩ chân chính lại từ chối (hồi I).

Một cung nữ tên là Đan Thềm khuyên Vũ Như Tô chấp nhận lời yêu cầu của Lên Tương Dục, vì làm như vậy cũng nhằm để xây dựng cho đất nước, cho hậu thế một tòa lâu đài "bền như trăng sao" có thể hãnh diện với nghìn thu, với thế giới. Ông đôn đốc toàn tâm sức vào việc đó sao cho Cửu Trùng Đài thật uy nghi, tráng lệ. Công việc càng tiến triển thì mâu thuẫn giữa nhà vua và phe đối lập của Quân công Trịnh Duy Sản càng trở nên gay gắt, theo đó, mâu thuẫn giữa "tổng công trình sư" Vũ Như Tô với chính những người thợ, những người trợ giúp ông bị phe đối lập chia rẽ, xúi bẩy, đe dọa cũng dần trở nên căng thẳng (hồi II, III, IV).

Lợi dụng tình hình rối ren và những mâu thuẫn đến độ cần giải quyết Trịnh Duy Sản cầm đầu phe đối lập dấy binh nổi loạn, giết Lê Tương Dực, Đan Thềm, Vũ Như Tô và cho thiêu hủy Cửu Trùng Đài (hồi V).

Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài chính là toàn bộ hồi V của vở kịch Vũ Như Tô, gồm chín lớp kịch. Sự việc diễn ra và đi đến giải quyết ở hồi V được nung nấu và phát triển ở bốn hồi trước: Biết tin có biến, Đan Thềm thúc giục Vũ Như Tô trốn chạy để bảo toàn tính mạng. Vũ Như Tô không nghe và tin rằng ông "chính quang đại minh". Tình hình càng nguy kịch: vua bị giết, Đan Thềm bị bắt và bị sỉ nhục,… Khi quân phản loạn đốt Cửu Trùng Đài thành tro bụi thì Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Ông đau đớn vĩnh biệt công trình đang dang dở của đời mình và bình thản ra pháp trường.

2. Hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch

a) Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn và phe Lê Tương Dực

Cầm đầu phe nổi loạn là Quận công Trịnh Duy Sản. Sau Trịnh Duy Sản là võ sĩ Ngô Hạch, An Hòa Hầu. Vì can ngăn vua không xây Cửu Trùng Đài, đòi giết Vũ Như Tô nhưng không được lại còn bị đánh nhục nhã, Trịnh Duy Sản "giả mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về làm loạn". Chúng đã lợi dụng, xíu bẩy thợ xây Cửu Trùng Đài và dân chúng để lôi kéo họ làm phản phục vụ cho míc đích riêng của phe đối lập trong triều.

Mâu thuẫn này tượng trưng cho mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phong kiến: mâu thuẫn giữa bọn thống trị và những người bị trị, giữa lợi ích của hôn quân bạo chúa và quyền sống của nhân dân bị áp bức.

Mâu thuẫn này được thể hiện chủ yếu ở các hồi trước hồi V (xoay quanh việc xây hay không xây Cửu Trùng Đài, việc xây Cửu Trùng Đài đã ngốn bao tiền của, sức lực kể cả tính mạng của người lao động,…), thành cao trào ở hồi cuối cùng (Lê Tương Dực bị giết, các cung nữ bị bắt bớ, nhục mạ; dân chúng hò reo đốt phá Cửu Trùng Đài, nguyền rủa Vũ Như Tô, Đan Thềm,…).

Xem thêm:  Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Bác Hồ muốn khuyên dạy chúng ta điều gì qua hai dòng thơ này? – Bài tập làm văn số 6 lớp 7

Ở vở kịch Vũ Như Tô, mâu thuẫn thứ nhất là cái cớ, làm nền cho ý tưởng mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đau đáu gửi gắm qua việc đề cập đến mâu thuẫn thứ hai của vở kịch.

b) Mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ và lợi ích thiết thực của nhân dân

Sự hình thành và diễn biến của mâu thuẫn này trong các hồi kịch trước gắn với câu truyện xây Cửu Trùng Đài với những chuyển động trái chiều nhau, diến biến với các xung đột dữ dội và dẫn đến kết thúc với nhiều xác chết, trên nền lửa đỏ lẫn tro bụi của Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô bình thản ra pháp trường….

Mẫu thuẫn thứ hai ở hồi V, bị đẩy lên đỉnh điểm. Nếu như ở bốn hồi trước, nó chỉ là mâu thuẫn tiền ẩn bên trong mâu thuẫn thứ nhất thì ở cuối đoạn trích, nó được hòa nhập làm một. Chính mâu thuẫn thứ hai này là "lỗi lầm bi kịch" của Vũ Như Tô – người kiến trúc sư có tài ấp ủ một hoài vọng "đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công".  Vũ Như Tô theo lời khuyên của Đan Thềm tưởng rằng có thể mượn thế lực và đồng tiền của bạo chúa để thực hiện được khát vọng nghệ thuật chính đáng của mình. Ông đã bất chấp tất cả  – tiền của, mồ hôi, xương máu của bao người thợ, thậm chí cả sức lực và tính mạng của bản thân. Chính sự đắm chìm trong công trình Cửu Trùng Đài cao cả, dần dần ông đã mất hẳn chỗ đứng trong cuộc đời, hơn thế nữa, thành kẻ bị cô lập, cô độc và cuối cùng phải nhận cái chết thảm khốc. Đấy là bi kịch của một nghệ sĩ "thuần túy", một kẻ mơ hồ, ngây thơ về chính trị, không biết đứng về phía nhân dân. Từ một người phản đối nhu cầu ăn chơi sa đọa của kẻ thống trị, vô hình trung ông lại tự biến mình thành kẻ tiếp tay cho bọn thống trị; từ một người biết tôn trọng lao động của nhân dân, ông đã vô tình làm khổ họ, đày đọa và li tán bao gia đình; từ một người yêu đất nước, ông trở thành một kẻ hại dân hại nước… Vũ Như Tô đâu có biết rằng có bao chuyện còn cần thiết hơn việc xây dựng Cửu Trùng Đài, có những thứ còn quý hơn cả nghệ thuật kiến trúc. Tách rời lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, tách rời cuộc sống, nghệ thuật không thể tồn tại, tài năng của người nghệ sĩ không thể phát triển.

Việc giải quyết mâu thuẫn thứ hai của vở kịch được tiếp nhận với nhiều ý kiến khác nhau trong nhiều năm qua. Tạo được cái kết "bỏ ngỏ" đầy ám ảnh khiến người đọc nhiều thế hệ sau tiếp tục tìm lời giải đáp là một nỗ lực không nhỏ của người viết vào những năm ông còn băn khoăn "tìm đường" đó.

3. Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô, Đan Thềm

a) Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

Vũ Như Tô là hình tượng nhân vật biểu tượng cho niềm khát khao sáng tạo và đam mê cái đẹp. Ở những hồi kịch trước, nhà văn đã chuẩn bị cho người đọc cuộc kì ngộ giữa Vũ Như Tô, người có tài đam mê cái đẹp, và Đan Thềm, người cung nữ tài sắc, thâm trầm đam mê cái tài, để từ đó, tính cách nhân vật này được phát triển theo sự tiến triển của câu chuyện xây Cửu Trùng Đài đầy trắc trở, mâu thuẫn thứ nhất được giải quyết một phần nhưng lại là sự khởi đầu của một mâu thuẫn mới, chuẩn bị cho một cao trào mới. Từ lúc thà chết chứ không xây đài cao cho hôn quân bạo chúa đến lúc được Đan Thềm khai mở, ông đã đắm chìm trong mộng tưởng sáng tạo là hai mặt mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tính cách nhân vật Vũ Như Tô – nghệ sĩ. Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài không còn là tòa lâu đài của bạo chúa; nó trở thành biểu tượng của cái đẹp mà kẻ sĩ như ông phải dốc toàn tài, nó thành lẽ sống của cả đời kẻ sĩ.

Xem thêm:  Cảm nhận của anh/chị về cách vào truyện và tiếng chửi của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên?

Diễn biến tâm trạng qua các lời thoại của Vũ Như Tô chín lớp kịch trong hồi cuối xoay quanh việc tìm lời giải đáp cho câu hỏi lớn trong tâm tưởng của ông; "Xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai?", "Việc ông đang làm là có công hay có tội?". Bi kịch của Vũ Như Tô là ở chỗ ông không tự giải đáp được câu hỏi tưởng chùng như đơn giản đó, bởi ông chỉ đứng trên lập tường của cái đẹp "thuần túy" mà xa rời cuộc sống của nhân dân, vô tình làm phương hại đến lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Hành động mà ông lựa chọn và quyết định (không theo lời khuyên của Đan Thềm là phải chốn chạy để bảo toàn tính mạng) chứng tỏ con người này không thể điều hòa nổi sự mâu thuẫn giữa lợi ích dân tộc lâu dài (xây Đài để khẳng định địa vị của dân tộc Việt Nam trước các dân tộc khác) và thực tế đời sống trước mắt của đại bộ phận nhân dân (Đài càng cao thì càng mất nhiều tiền của, công sức của thợ, của dân…). Ông không tỉnh táo bằng Đan Thềm, vẫn quá tự tin vào ý tưởng tốt đẹp của mình nên khi giấc mộng nghệ thuật của đời ông sụp đổ (Cửu Trùng Đài bị thiêu hủy) ông đau đớn kinh hoàng. Nỗi đau ấy bật thành tiếng rú tuyệt vọng: "Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thềm! Ôi Cửu Trùng Đài!". Tiếng kêu đó rồi cũng bị ngọn lửa thiêu hủy Cửu Trùng Đài nuốt chửng. Trên nền lửa đỏ tro tàn ấy, người kiến trúc đầy ảo tưởng biết mình thế là hết. Trong cảnh bát nháo, náo loạn giữa triều đình và phe nổi loạn, ông bình thản ra pháp trường.

Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô ở hồi V góp phần hoàn chỉnh tính cách bi kịch ở nhân vật chính, làm nổi rõ hướng giải quyết mâu thuẫn thứ hai của vở kịch và cũng là chủ đề của tác phẩm Vũ Như Tô.

b) Tính cách, diễn biến tâm trạng của Đan Thềm

Nếu như Vũ Như Tô là người đam mê cái đẹp thì Đan Thềm là người đam mê cái tài, tài sáng tạo cái đẹp. Cái tài mà nàng trọng phải là cái tài có ích, cái tài ấy phải được thi tố trong việc tô điểm cho đất nước, nâng cao địa vị cho dân tộc. "Bệnh" của Đan Thềm là bệnh của người tài, người có hoài bão đam mê sáng tạo. Ước mong cháy bỏng của người cung nữ này là làm sao để đất nước có một Cửu Trùng Đài tráng lệ. Đó là một ước mơ đẹp của một con người có nhân cách, có tinh thần dân tộc. Ở các hồi trước, Đan Thềm đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực với mục đích "làm cho đất Thăng Long này trở thành nơi kinh kì lộng lẫy nhất trần gian". Và thế là, cũng như Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài trở thành lẽ sống của phần đời còn lại của người lạ lùng này nơi cung dinhd. Nàng tìm cách lợi dụng bọn quan lại, vui niềm vui của những người thợ và sung công mọi đồ tế nhuyễn để xây Đài. Có biến, Đan Thềm không nghĩ đến sự sống còn của bản thân mà đi tìm Vũ Như Tô, hai lần van lạy ông hãy mau chốn tránh và nghĩ rằng nếu ông mất đi thì "nước ta không còn ai tô điểm nữa". Khi quân nổi loạn đến, Đam Thềm cam chịu sỉ nhục, quỳ xuống van xin tên võ sĩ Ngô Hạch tha cho Vũ Như Tô: "Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Xin tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài". Khi bị quân Ngô Hạch trói lại, nàng vô cùng tuyệt vọng vì biết rằng không thể cứu được Vũ Như Tô đã đau đớn vĩnh biệt ông: "Ông Cả! Đài lớn tan tành! Ông Cả ơi! xin cùng ông vĩnh biệt!".

Xem thêm:  Phân tích lẽ sống trong bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Diễn biến tâm trang của Đan Thềm trong bảy lớp kịch ở hồi V góp phần thể hiện toàn vẹn tính cách bi kịch của Vũ Như Tô, làm rõ hơn sự giải quyết mâu thuẫn thứ hai và cũng là chủ đề của vở kịch.

4. Lời tựa vở kịch Vũ Như Tô

Ngày 8-6-1942, Nguyễn Huy Tưởng chép lại vở kịch viết xong từ mùa hạ năm 1941 và đặt bút viết Đề tựa cho nó. Chắc hẳn ông linh cảm được rằng những suy tư, dằn vặt mà mình gửi gắm vào tác phẩm không dễ được tiếp nhận. Ông viết Đề tựa dường như để nói rõ hơn, cụ thể hơn  với ý đồ nghệ thuật của mình nhằm để người đọc thấu hiểu cho ông.

Trong lời tựa, Nguyễn Huy Tưởng đã tóm tắt nội dung vở kịch Vũ Như Tô bằng ba câu hỏi buộc phải lựa chọn đầy băn khoăn, đặc biệt nhắc lại nhức nhối hai lần câu: "Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải?". Ông nói rằng: "Ta chẳng biết", thực ra ông biết rất rõ. Cái ý của ông thể hiện qua lời thoại của nhân vật Đan Thềm là nhà văn cảm phục từ "tài trời" và sức sống bất diệt của người dân Việt, đồng thời là tủi hổ cho nỗi thiệt thòi của người dân Việt. Việt Nam đâu thiếu người tài, vậy mà chỉ vì miếng cơm manh áo hằng ngày ghì họ sát đất nên họ không phát triển về đường văn hóa nghệ thuật bằng người. Trước thực tế lịch sử đó, người cầm bút yêu dân yêu nước ngậm ngùi thấy mình "cùng một bệnh với Đan Thềm" cũng là điều dễ hiểu. "Bệnh Đan Thềm" là sự khao khát được thăng hoa sáng tạo những tài năng trong mỗi người cho đất nước, cho dân tộc.

Post Comment