Văn mẫu lớp 12

Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Người đàn bà hàng chài là người mang thân phận nhỏ bé, vô danh. Nguyễn Minh Châu đã gọi lên một cách phiếm định bằng nhiều tên gọi khác nhau: người đàn bà hàng chài, mụ, chị ta… Cũng giống như Kim Lân gọi người vợ nhặt trong tác phẩm của mình là "thị", cách gọi của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã hé mở một cuộc đời éo le, nhọc nhằn, một số phận bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề lo toan. Không có tên tuổi cụ thể, một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác, người đàn bà này là đại diện cho những người phụ nữ Việt Nam lam lũ, cực nhọc từ ngàn đời nay. Tuy nhiên, văn học lúc bấy giờ đang được hâm nóng bởi đề tài "hậu chiến", mở ra hình tượng người đàn bà hàng chài là bước tiên phong của Nguyễn Minh Châu trong việc khai thác đề tài đời tư thế sự. 

Cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô cệch. "Người đàn bà chạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô cệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ". Đây là nhân vật tiêu biểu cho dạng "nhân vật tính cách – số phận" trong sáng của Nguyễn Minh Châu. Ngoại hình của chị mang dấu ấn của cuộc đời khốn khổ, đặc biệt là chi tiết "khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ". Không cáu gắt, chị âm thầm chịu đựng những trận đòn từ người chồng, đó là dấu hiệu của sự tê liệt về ý thức hay nhấn mạnh sự cam chịu của người đàn bà trước những đắng cay tủi hờn mà người chồng vũ phu gây ra?

Xem thêm:  Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù

Một chi tiết bất ngờ, thằng Phát đã chạy xổ đến giật chiếc thắt lưng từ tay của cha mình. Đó là cách mà thằng bé bảo vệ mẹ mình nhưng nó cũng làm người mẹ khổ đau ấy bị dày vò: "Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để rồi lại ôm chầm lấy". Những trận đòn roi của bố không thể che mắt được thằng bé, dù người mẹ đã hết sức che chắn (xin chồng đừng đánh mình trên thuyền, trước mặt con cái). Cái kết cục kia khiến chị vừa đau đớn, vừa vô cùng xấu hổ nhục nhã. Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con. Chị không muốn đàn con phải nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ, không muốn đem lại cho đứa con những rạn vỡ trong tâm hồn.

Người đàn bà ấy không chỉ cam chịu, nhẫn nhục mà còn là người sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Chị chấp nhận, không kêu van, không chốn chạy. Khi được đề nghị giúp đỡ thì "quý tòa bắt tội con cũng được, phải tù cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó". Chị ý thức được thiên chức của người phụ nữ: "ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn". Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp cùng nuôi dạy các con: "đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đất được". Chị "phải sống cho con chứ không phải sống cho mình". Nguyên nhân sâu sa của sự cam chịu chính là sự thương con vô bờ bến của chị. Hãy quan sát cách nói chuyện ta sẽ hiểu hơn về người phụ nữ khổ đau ấy. Lúc đầu người đàn bà xưng con, thưa quý tòa, giọng van xin thảm hại "con lạy quý tòa"…Chú ý không chỉ nói mà còn làm: chắp tay lạy vái lia lịa. Nhưng sau đó cách nói năng và cử chỉ thay đổi: không cúi ngục xuống nữa, mà ngẩng lên mà nhìn thẳng vào quý tòa, với cách của một người tự chủ (lần lượt từng người một); đổi xưng hô thành chị với các chú.

Xem thêm:  Phân tích đoạn thơ Cảnh ngày xuân trích truyện Kiều của Nguyễn Du.

Người đàn bà ấy còn là người giàu lòng vị tha. Chị hiểu được trước đây chồng vốn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành, cũng nghĩ cho vợ con nhưng rồi cuộc sống mưu sinh khổ nhọc làm cho anh ta tha hóa. Trong thâm tâm chị, những nỗi đau đớn mà mình gánh chịu xứng đáng như thế vì bởi chị…đẻ nhiều con quá. Điều đó đồng nghĩa với cái đó, cái nghèo khổ còn bám riết lấy gia đình này. Trong lời thú tội ngậm ngùi, chân thật và tê tái của chị, có những câu hỏi không dễ trả lời, những mâu thuẫn khó giải thích: để yêu thương và sống qua muôn nỗi khó khăn, cơ cực, đôi khi người ta phải chấp nhận tàn nhẫn, tha hóa, phi đạo đức. Chị cho rằng chồng cũng không hẳn hoàn toàn xấu. Có lẽ cuộc sống đói nghèo, vất vả, quẩn quanh bao nhiêu lo toan, cực nhọc đã biến "anh con trai cục tính nhưng hiền lành" xưa kia thành một người chồng vũ phu, một lão đàn ông độc ác. Cứ khi nào thấy khổ quá là lão đánh vợ, đánh như để giải tỏa uất ức, để trút cho sạch nỗi tức tối, buồn phiền. 

Qua hình ảnh người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu không chỉ kín đáo thể hiện mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc đời mà còn đặt ra vấn đề cần nhìn nhận, đánh giá con người và cuộc sống một cách đúng đắn. Cần phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều, phải "cố tìm mà hiểu" để phát hiện ra bản chất tốt đẹp của con người, phát hiện ra những uẩn ức, những uẩn khúc và nghịch lí của cuộc đời. Nhà văn trân trọng và nâng niu vẻ đẹp tâm hồn đáng quý của người dân lao động, nhất là vẻ đẹp của tình yêu thương và đức hi sinh. Nhà văn cũng phê phán mạnh mẽ sự ngu muội của con người khi hành hạ người thân một cách vũ phu tàn nhẫn. Tất cả làm nên tư tưởng nhân đạo thâm trầm, sâu sắc và mới mẻ của truyện ngắn này.

Post Comment