Văn mẫu lớp 12

Phân tích khát vọng trở về với nhân dân, hoài niệm về nhân dân trong kháng chiến qua bài thơ Tiếng Hát Con Tàu

Phân tích khát vọng trở về với nhân dân, hoài niệm về nhân dân trong kháng chiến qua bài thơ Tiếng Hát Con Tàu

Khát vọng trở về với nhân dân, hoài niệm về nhân dân trong kháng chiến qua bài thơ Tiếng Hát Con Tàu

a. Khổ 3, 4: Hồi tưởng về Tây Bắc anh hùng trong kháng chiến

– Không gian rừng núi của Tây Bắc trong cảm nhận của thi nhân là mảnh đất thiêng liêng, trân trọng. Đất Tây Bắc thiêng liêng và con người Tây Bắc anh hùng. Nhà thơ điệp lại tên địa danh như muốn khắc sâu vào tâm trí con người hình ảnh một vùng đất cách mạng hào hùng một thời của dân tộc. Câu cảm thán như một thoáng bồi hồi trong ký ức, hoài niệm khi lên đường theo tiếng gọi lòng mình tìm về Tây Bắc. 

– Chế Lan Viên đã suy tư và sáng tạo ra một ý thơ độc đáo "máu rõ tâm hồn ta thấm đất". Câu thơ trở thành một lời nhắc nhở đến sự hi sinh to lớn, máu thấm đất và thấm cả hồn người, nhất là những ai đang mang bao ân tình sâu đậm với Tây Bắc,

– Theo dòng hoài niệm, sau Tây Bắc là cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân. Nghệ thuật cường điệu, khuếch đại nhằm khẳng định sức mạnh lớn lao của kháng chiến đồng thời cũng là lòng biết ơn sâu nặng với cuộc kháng chiến của tác giả.

– Sự soi đường của quá khứ anh hùng trong hiện tại cũng thúc giục bản thân, mọi người đến với Tây Bắc. Không chỉ là "đi" mà còn phải "vượt", không chỉ tham gia kháng chiến mà còn phải vươn lên, thoát khỏi lối sống nhỏ hẹp tầm thường của bản thân để "về với mẹ yêu thương" – hành trình đi đến cũng là về với bao niềm vui sướng, hạnh phúc dâng trào. Chế Lan Viên mang ơn Tây Bắc đã tái sinh cuộc đời của ông từ bóng tối nô lệ sang ánh sáng tự do.

Xem thêm:  Nghị luận về một truyện ngắn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam mà anh chị yêu thích – Bài tập làm văn số 6 lớp 12

– Cuộc kháng chiến được so sánh như ngọn lửa nhằm thể hiện sự soi rọi, chói lọi, nồng đượm và ấm áp. Để rồi khiến lòng người bừng lên một quyết tâm, phấn đấu, vươn lên không ngừng. Khi đã có một khoảng lùi nhất định về thời gian, nhà thơ nhấn mạnh đến sự hi sinh to lớn của nhân dân Tây Bắc. Vì Tây Bắc là "sứ thiêng liêng rừng núi anh hùng" nên nơi đây còn thắp sáng ngọn lửa tin yêu soi đường cho ta bước tới; không chỉ là quá khứ hào hùng mà còn là con đường tương lai chói ngời – nơi con người soi vào và đi đến với bao khát vọng. Do đó, về với Tây Bắc là về với cội nguồn, với dân tộc và nhân dân.

b. Khổ 5: Cuộc gặp gỡ thiêng liêng, ân tình

– Cả đoạn thơ đều thể hiện niềm vui đón chờ: thiên nhiên, mùa xuân tràn đầy sức sống, vạn vật sinh sôi, phát triển tốt nhất; trở về như một nhu cầu thiết yếu của sự sống, tìm về nguồn sống của chính mình; trở về để tìm lại sự trở che, cưu mang, đùm bọc của những người thương yêu. 

– Bao nhiêu so sánh là bấy nhiêu sự cố gắng diễn tả cảm xúc vui mừng, đồng thời cũng là bày tỏ tình cảm với nhân dân Tây Bắc. Hình ảnh so sánh bình dị, gần gũi, hết sức bất ngờ.

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về câu nói: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình” – Bài tập làm văn số 1 lớp 12

– Giọng thơ tha thiết, chân thành; vừa khái quát, triết lý với hàng loạt so sánh dung dị, tràn đầy sức sống, thấm đẫm trong tình yêu thương trìu mến. Về với nhân dân là về với cội nguồn sáng tạo, cuội nguồn thân thuộc của đời sống. Hình ảnh so sánh chân thực, gần gũi, tạo sức rung cảm mãnh liệt. Về với nhân dân vừa là khát vọng, vừa là niềm hạnh phúc không gì so được.

c. Khổ 6, 7, 8: Hoài niệm về những con người tiêu biểu cho nhân dân Tây Bắc

– Hình ảnh "chiếc áo nâu" biểu tượng một đời đau khổ, lam lũ của những con người giản dị, bình thường nhưng có tâm hồn đẹp đẽ.

– Bước chân em bé liên lạc nhanh nhẹn, thông minh, giàu trách nhiệm in dấu trên khắp núi rừng Tây Bắc, Qua đó tác giả cũng đã thể hiện niềm yêu mến khâm phục, tự hào về một dân tộc giàu truyền thống anh hùng.

d. Khổ 9: Những suy ngẫm đầy triết lý và giàu cảm xúc

– Từ hình ảnh nhân dân tây bắc sâu nặng nghĩa tình đó, dòng hồi ức đưa nhà thơ nương theo nỗi nhớ vấn vương cùng những miền đất xa xôi của núi rừng, những bản làng chìm trong sương phủ. 

– Điệp từ "nhớ" tiếp tục lặp lại, ba khổ thơ trước đã nhớ nay lại nhớ nhiều hơn – nhớ thiên nhiên với vẻ đẹp đầy chất thơ, nhớ con người đầy ân tình.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Tự Tình

e. Khổ 10, 11: Mạch thơ phát triển với suy nghĩ về tình yêu

– Những cặp hình ảnh gắn bó khăng khít với nhau đông – rét, cánh kiến – hoa vàng, mùa xuân – chim rừng lông trở biếc, diễn tả ý nghĩa: Từ mối quan hệ gắn bó khăng khít của sự vật, hiện tượng của đất trời nhà thơ muốn đưa ra một triết lý: sự vật, hiện tượng chỉ có thể sinh thành và phát triển trong mối quan hệ khăng khít với các sự vật hiện tượng khác.

– Đoạn thơ tưởng chừng như không gắn bó với bài thơ nhưng vẫn liền mạch, suy tư, cảm xúc: "tình yêu ta – cánh kiến hoa vàng", " mùa đông – rét" được nhà thơ dựng ra như những mối tương quan mang tính quy luật nhằm khẳng định sự bền vững của tình cảm.

– Nỗi nhớ người em gái nuôi quân, tình người thơm thảo dâng tràn theo cảm nhận mùi sôi cuối mùa chiến dịch. Trong tình yêu còn có nghĩa tình kháng chiến, nỗi nhớ người thiếu nữ dồn vào chi tiết "vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng". 

Post Comment