Phân tích cái ngông của nhà thơ Tản Đà trong bài thơ Hầu Trời

Phân tích cái ngông của nhà thơ Tản Đà trong bài thơ Hầu Trời

Tản Đà (1889 – 1939) Tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, Quê ông ở Sơn Tây thuộc Ba Vì, Hà Nội ngày nay. Tản Đà được coi là “người nằm vắt mình qua hai thế kỉ”, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ, là người đặt nền móng cho thơ mới. Những đánh giá ấy đã xác nhận vị trí quan trọng của Tản Đà đối với văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn này, giai đoạn văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu cho giai đoạn hiện đại hoá mau lẹ. Hầu trời là một bài thơ có rất nhiều điểm mới ra đời trong hoàn cảnh khuynh hướng lãng mạn khá đậm nét trong văn chương thời đại, xã hội thực dân nửa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy cảnh ngang trái, xót đau.

Loading...

Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tôi gắn liền với cá tính sáng tạo của một người cầm bút. Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung. Tản Đà-nhắc đến thi nhân là nhắc đến “xê dịch, ngông và đa tình”. Ba yếu tố đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam. Nhưng có lẽ, cái tôi độc đáo của nhà thơ đã thể hiện trong Hầu Trời là một cái tôi ngông rất lạ. “Ngông” không phải chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác. Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những phong cách riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm. 

Chất ngông thương được thể hiện bởi các nhà văn, nhà thơ có ý thức cao độ về cái tài và cái tình. Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để “đóng dấu” hình ảnh của mình với thời gian. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thách thức với cuộc đời, với người đời và cũng bởi trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách không thể trộn lẫn với một người nào khác. Và cái ngông ấy trong Hầu Trời đã tạo ra cho nhà thơ một cái tôi độc đáo.
Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Vì vậy tiếng ngâm thơ “vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ là ở chỗ ấy.
                                                  “Đêm qua chẳng biết có hay không
                                                    Chẳng phải thảng thốt không mơ mòng
                                                    Thật hồn! Thật phách! Thật than thể
                                                    Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”.

Điệp từ "thật" nhấn mạnh cảm xúc của thi nhân, những câu cảm thán bộc lộ cảm xúc bàng hoàng, câu khẳng định dường như lật lại vấn đề mơ mà như tỉnh,hư mà như thực. Cách giới thiệu ấy đã gợi cho người đọc về một tứ thơ lãng mạn nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái hồn cốt trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thật. Cách vào chuyện đầy độc đáo và có duyên ấy làm cho câu chuyện mà tác giả sắp kể trở nên lôi cuốn.

Rồi nhà thơ kể về hoàn cảnh  bắt đầu câu chuyện đầy li kì của mình:

                                                    Nguyên lúc canh ba nằm một mình
                                                    Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh
                                                    Nằm buồn ngồi dậy đun nước uống
                                                    Uống xong ấm nước nằm ngâm văn

Vậy là cái không gian mở đầu đã rất đầy đủ, thời gian – canh ba; không gian – đêm khuya; hoạt động – nằm một mình, uống nước ngâm thơ, rất đầy đủ để đọc giả tưởng tượng ra một buổi đêm hết sức vắng lặng, quạnh quẽ. Đó là cái nền hấp dẫn để bắt đầu một câu chuyện lên tiên cuả nhà thơ. Vẫn những lời kể rất tự nhiên, nôm na. Cái lý do lên trời cũng rất độc đáo mà  hợp lí.

                                                    Trời nghe hạ giới ai ngâm nga
                                                    Tiếng ngâm vang cả sông Ngân hà
                                                    Làm trời mất ngủ trời đương mắng
                                                    Có hay lên đọc trời nghe qua

Mượn lời của nhà trời để nói về tiếng ngâm của mình "vang cả sông Ngân hà". Ở đây ta đã thấy rõ cái tôi cá nhân đầy chất lãng mạn bay bổng pha chút ngông trong tác giả. Điều này càng rõ ràng khi thi nhân đọc thơ và nói về các tác phẩm của mình. 

                                                    Đọc hết văn vần lại văn xuôi
                                                    Hết văn thuyết lý lại văn chơi

Nhà thơ đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc. Ông cũng kể tường tận về các tác phẩm của mình:

                                                    Hai quyển khối tình văn lý thuyết
                                                    Hai khối tình còn là văn chơi
                                                    Thần tiên giấc mộng văn tiểu thuyết

Giọng đọc của Tản Đà rất đa dạng, hóm hỉnh và ngông nghênh. Đoạn thơ đã cho thấy ông rất ý thức về tài năng văn thơ của mình, cũng là người táo bạo dám đường hoàng bộc lộ cái tôi cá thể. Ông cũng rất "ngông" khi tìm đến trời để thể hiện tài năng. Đây cũng là khát khao chân thành trong tâm hồn Tản Đà.

Sự độc đáo ở đoạn thơ còn thơ còn thể hiện ở việc thi nhân tự khen thơ mình nhưng lại để cho trời và chư tiên khen ngợi:

                                                    Chư tiên ao ước tranh nhau dặn
                                                 "Anh ghánh lên đây bán chợ trơi"
                                                   Trời lại phê cho văn thật tuyệt
                                                   Văn trần được thế chắc có ít
                                                   Người ở phương nào ta chưa biết.

Trời khen rất nhiệt thành: "văn thật tuyệt, văn chuốt như sao băng…" chư tiên thì xúc động, hâm mộ và tán thưởng: "tâm nở dạ, cơ lè lưỡi.." Đây là một lối ngông rất đáng yêu của thi sĩ. Cả đoạn thơ đậm chất lãng mạn. Đồng thời ở đây ta cũng thấy rõ tư tưởng thoát li của nhà thơ – muốn chốn thoát khỏi chốn trần tục, văn thơ cuả ông chỉ xứng cho người trời nghe, người đời không hiểu, không cảm hết được giá trị, tầm vóc của nó.

Ở đoạn thơ tiếp theo nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái tôi của mình gắn liền với tên tuổi thật của mình:

                                                   Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn
                                                   Quê ở Á châu về địa cầu
                                                   Sông Đà núi Tản nước Việt Nam

Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cách để thể hiện cái tôi của mình. Đó là thái độ ngông của người có tài, biết trân trọng khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại cuả Tản Đà, đất nước đang mất chủ quyền, tự giới thiệu như là cách thể hiện sự tự hào, tự tôn dân tộc. Nhà thơ còn khẳng định phong cách ngông của mình một cách hóm hỉnh:

                                                "Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
                                                  Đày xuống hạ giới vì tội ngông"

Trong cuộc đối thoại với tưởng tượng với trời nhà thơ còn khẳng định trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả của mình là lo việc "thiên lương". Phải chăng đó cũng là lời khẳng định về thiên chức của những người cầm bút. Đây là tình huống được tác giả xây dựng đầy hợp lí để có cơ hội giãi bày về cái nghề của mình.Thi nhân kể về cuộc sống – đó là một cuộc sống nghèo khổ, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, ở trần gian không tìm được tri âm phải lên cõi trần để thỏa nguyện nỗi lòng:

                                                  Bẩm trời cảnh con thực nghèo khó
                                                  Trần gian thước đất cũng không có
                                                  Văn chương hạ giới rẻ như bèo
                                                  Kiếm được đồng lãi thực rất khó

Nhà thơ Tản Đà được coi là người đặt nền móng cho thơ hiện đại không chỉ bởi hơi thở mới mẻ trong thơ ông, cái tôi hiên ngang trong các áng văn thơ của ông mà còn bởi ông là người đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”. Hầu Trời

Qua đoạn thơ ấy ta thấy hiện lên một bức tranh đầy chân thực và cảm động về cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội bấy giờ, một cuộc sống cơ cực, không tấc đất cắm rùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn…Cả đoạn văn là cảm hứng hiện thực bao trùm.

Ở đây nhà thơ cũng ý thức  rất rõ về trách nhiệm của mình là truyền bá thiên lương. Điều đó giúp ta chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không thoát li hoàn toàn. Ông vẫn ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ với đời là góp phần đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn. Đó là sự khẳng định mình trước cuộc đời, khao khát được gánh vác việc đời.

Với Hầu trời, Tản Đà đã đem lại cho văn học Việt nam đầu thế kỉ một luồng không khí mới. Qua một câu truyện tưởng tượng đầy hào hứng. Ta đã thấy một cái tôi ngông nghênh, hào hoa và cái tôi cô đơn bế tắc trước thời vận. Tản Đà cũng đã tự tin khẳng định tài năng nói lên quan điểm văn chương thực hiện thiên lương của mình. Viết văn hay làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn là xứ mạng mà trời đã giao cho nhà thơ. Với cách kể truyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc, ngôn ngữ thơ tinh tế, gợi cảm, cảm xúc tự nhiên phóng túng trong thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do đã cho ta một tuyệt tác thi ca kì diệu.

Phân tích cái ngông của nhà thơ Tản Đà trong bài thơ Hầu Trời
5 (100%) 480 đánh giá
Loading...

Từ khóa tìm kiếm

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ