Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Đề bài: Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Bài làm

Phan Bội Châu sinh năm 1867, mất năm 1940. Ông là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử giải phóng dân tộc của nước ta. Ông cũng được xem là linh hồn của các phong trào giải phóng dân tộc chẳng hạn như phong trào Đông Du. Bên cạnh đó, tên của ông cũng gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, Việt Nam Quang Phục hội. Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba, Phan Bội Châu còn là một nhà thơ, một nhà viết truyện tài tình. Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương là một trong những tác phẩm đặc sắc của ông.

Năm 1905, Phan Bội Châu đã dấy lên phong trào Đông Du. Trước đó 1 năm, chính ông là người đã sáng lập ra Hội Duy Tân. Theo chủ trương của Hội, Phan Bội Châu đã lên đường sang Nhật để tìm đường cứu nước. Trước buổi đầu lên đường, ông đã sáng tác bài thơ Xuất dương lưu biệt để gửi tặng những người đồng chí của mình. Bài thơ đã đánh dấu một tài năng xuất chúng trong lĩnh vực thi ca.

phan tich bai tho luu biet khi xuat duong - Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương

Được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ Xuất dương lưu biệt giống như một khúc ca biểu lộ tâm trạng hăm hở và ý chí quyết tâm của Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương:

Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời

Một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp cái chí khí nam nhi trong thơ xưa. Những câu thơ trên, Phan Bội Châu thể hiện rõ sự tự hào về chính bản thân mình rằng mình là một đáng nam nhi mà đã là nam nhi thì sống cho ra sống. Suy nghĩ trong đầu ông lúc nào cũng là khao khát được làm nên điều lạ. Nói một cách rộng ra thì đã là nam nhi sống ở trong trời đất không được để cho trời đất “tự chuyển dời” mà phải hành động, phải làm được điều gì đó để cuộc sống không diễn ra một cách tẻ nhạt.

Xem thêm:  Phân tích mâu thuẫn giữa nghệ thuật thuần tuý và đời sống của nhân dân lao động qua Vĩnh biệt cửu Trùng Đài (trích vở kịch Vũ NhưTô của Nguyễn Huy Tưởng).

Hai câu thơ tiếp theo, Phan Bội Châu tiếp tục mở rộng ý thơ, ông khẳng vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử của nước nhà:

Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?

Hai câu thơ đọc lên nghe có vẻ đối nhau nhưng thực chất lại làm nổi bật lên vai trò của tác giả trong lịch sử. Đối với Phan Bội Châu, lịch sử đã giao phó cho ông một trọng trách vô cùng to lớn và ông thì luôn sẵn sàng để đứng lên và gánh vác trọng trách ấy. Đối với ông lúc này, phải có ông trong cuộc đời một trăm năm. Tư tưởng vĩ đại vì dân, vì nước này chúng ta cũng đã từng bắt gặp trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn:

Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.

Hai câu thơ có sự đối ứng giữa “bách niên” và “thiên tải”. Một bên là cái hữu hạn của đời người, một bên là cái vô hạn của lịch sử dân tộc. Có thể thấy được quyết tâm và khát vọng cháy bỏng của Phan Bội Châu. Một giọng thơ hào hùng truyền được cho người đọc sức mạnh và sự tin tưởng, tự hào. Chính cái ý chí vững vàng ấy đã giúp cho nhà thơ lạc quan hơn vào chặng đường phía trước dù biết rằng trước mắt có nhiều thử thách, chông gia.

Xem thêm:  Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Câu thơ tiếp theo đã nêu bật lên một lý tưởng vô cùng cao đẹp đó chính là con người còn thì sự nghiệp còn. Cứ nhìn vào những năm tháng tăm tối của lịch sử dân tộc ta sẽ hiểu rõ hơn về lý tưởng này. Một khi đất nước bị giặc xâm chiếm, con người sẽ bị mất tự do và sống cuộc sống phụ thuộc vào kẻ mạnh hơn mình. Kiếp sống ấy chẳng khác gì trâu ngựa. Sống mà nhục nhã hơn cả chết. Lúc này, chữ nghĩa đèn sách xem ra chẳng giúp ích được gì cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sách vở thánh hiền giờ trở thành vô nghĩa:

Non sông đã chết, sống thêm nhục,

Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài

Đứng trước vận mệnh của đất nước, Phan Bội Châu đã đặt mục tiêu giải phóng dân tộc lên đầu. Câu thơ như muốn nhắc nhở những sĩ tử ở khắp nơi đừng chỉ biết vùi đầu vào sách vở mà còn cần phải đi tìm lý tưởng, đi tìm chân lý trong chính đời sống của mình.

Hai câu thơ cuối một lần nữa khẳng định ham muốn vượt biển lớn để tìm lại ánh sáng cho dân tộc của tác giả:

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Bài thơ là một sự thôi thúc ý chí của quân lính nói riêng và của các thanh niên thời đại bấy giờ nói chung. Bằng cách thể hiện chính sự tự hào vào bản thân mình, Phan Bội Châu đã khơi dậy ham muốn trong mỗi con người, thúc đẩy họ hành động vì dân, vì nước. Bài thơ Xuất dương lưu biệt quả là một kiệt tác để đời của Phan Bội Châu.

Xem thêm:  Tả cảnh mùa xuân

Nhã Đan

Post Comment